Tại sao lại không được viết: « Je travaille laborieux » dù tra từ điển ra thì je = tôi, travaille = lao động, làm việc và laborieux = chăm chỉ?
Quan sát ví dụ
Khi tra từ điển Việt / Pháp hoặc Anh / Pháp, chúng ta bỏ qua một yếu tố quan trọng khi xét từ vựng, đó là nó thuộc phân loại nào? Khi dịch từ “lao động” sang tiếng Pháp, chúng ta cần cụ thể hoá văn cảnh ra:
–Luật lao động => từ “lao động” trong câu này là danh từ (n)
–Người nông dân lao động chăm chỉ. => từ “lao động” trong câu này là động từ, để trả lời cho câu hỏi “người nông dân làm gì?” – Họ lao động (v)
–Hạt lúa là thành quả của sức lao động. => từ “lao động” trong câu này là danh từ (n)
–Lao động là vinh quang. => từ “lao động” trong câu này là động từ, một hoạt động được vinh danh, một hành động được khen ngợi, được đánh giá cao (v)
–Anh ấy đi lao động ở nước ngoài. => từ “lao động” trong câu này là động từ (v)
Phân tích văn cảnh của từng câu
Cùng là 1 từ “lao động”, tại sao phải phân loại nhiều như vậy?
Câu trả lời: Chúng ta có những cách hiểu khác nhau khi đọc các ví dụ trên.
Có câu, chúng ta hình dung ra cảnh tượng làm việc, có câu, chúng ta chỉ hình dung ra thành quả, một ý tưởng, hoặc một lĩnh vực, phạm trù, nhưng không có ai làm việc. Việc đưa ra được mô tả chính xác, khớp với hướng diễn đạt của câu cực kỳ quan trọng, để đảm bảo người nói và người nghe cùng nhắc tới một sự vật, sự việc A mà không phải là ý niệm B, C, D nào đó.
Tuy nhiên, việc xác nhận lao động là “travail hay travailler” là chưa hoàn toàn đầy đủ trong tiếng Pháp. Nếu bạn thử tìm một bài Đọc hiểu tiếng Pháp ở trên mạng, có chứa từ travail hoặc nói về chủ đề “lao động – travail”, chúng ta sẽ thấy hàng loạt từ na ná nhau như sau: travailler, travail, travailleur, travaillent, travailleront, travailles, travaux… Điều đó cho thấy rằng: việc đoán nghĩa của câu thuộc chủ đề gì khá dễ dàng, nhưng chưa chắc chúng ta có thể quán triệt được nghĩa chính xác của nó.
Khi thử kiểm tra với văn bản dịch thuật, bên cạnh từ “lao động”, chúng ta còn các yếu tố đi kèm: người + lao động, đã + lao động, sức (thành quả) + lao động, (nhiều) công + lao động, (đang) + lao động, (sẽ) + lao động. Trong các bản dịch, chúng ta còn phát hiện thêm một điều, dù đều chứa thành tố TRAVAIL- giống nhau, nhưng một số từ lại được dịch thành: thi công, chăm chỉ… Và nếu hướng mắt về bên trái từ có chứa yếu tố TRAVAIL- để quan sát các chủ ngữ Je (Tôi), Tu (Bạn), Il (Anh ấy), Ils (Họ, Các anh ấy), chúng ta sẽ thấy có rất nhiều sự khác biệt, khi đem so sánh với cách chia động từ bên Tiếng Anh.
Il travaille, Ils travaillent, Tu travailles, Nous travaillons, Je travaillerai v.v…
Cần đề cập song song 2 thành tố ngữ pháp và từ vựng khi viết câu
Đầu tiên: Chúng ta cần hiểu rằng câu tiếng Pháp được viết theo một cú pháp rất chặt chẽ có các tính chất như: mạo từ + danh từ, đại từ (rất giống mạo từ) + động từ, adv + adj, adj + nom + adj… nên không thể chỉ tập trung vào việc tra từ điển, google dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp như: làm việc = travailler để viết câu.
Khi bắt đầu viết câu, chúng ta cần xác lập rõ trật tự, từ các dấu hiệu sau mà suy ra câu cần viết nó có hình thù như thế nào. Có rất nhiều cách để hình dung ra cú pháp câu, hay nói một cách bình dân hơn là “cách phối hợp các từ vựng với nhau thành một chuỗi (một ngữ) trong câu”. Có thể ví von rằng:
Khi đặt các từ A-B-C-D-E vào trong câu,
chúng ta cũng đang thử xử lý các phương án phối hợp A+B, B+C, C+D, D+E hoặc C+D+E
như cách kết hợp bún + riêu cua, gà nướng + lá chanh, rau muống + tỏi.
Nếu rau muống không đi với hành tây hay hành phi được, thì Je cũng không đi với Travaillons được.
So với người bản xứ – đã chấp nhận các quy tắc hoặc thích nghi với tập quán ngôn ngữ từ quá trình tập nói, với một số yếu tố ngữ pháp, chúng ta cần đọc định nghĩa, xem xét các ví dụ, học quy tắc chuyển đổi để có thể áp dụng cho việc nghe, đọc. Người bản xứ thích ứng và duy trì các quy tắc như một thói quen. Hay nói cách khác, việc học quy tắc chỉ là một phần bổ trợ rất nhỏ, so với thực tiễn nghe nói hằng ngày.
Về nguyên tắc, hầu hết các từ trong câu có tiếng Pháp đều gắn với một quy tắc chuyển đổi riêng. Trong một câu cơ bản, chúng ta có thể kể ra một bản danh sách giới hạn các từ bất biến – không phụ thuộc vào một quy tắc chuyển đổi nào đó. Còn lại, chúng ta cần hình dung:
câu tiếng Pháp như một hàm số có nhiều biến: f(x,y,z) = Enfant (x) + avoir (y) + livre (z).
Người nước ngoài như chúng ta, gặp hạn chế nhiều trong việc duy trì nghe, nói liên tục và buộc phải dành thời gian để hiểu sâu, thực hành và ngấm dần quy tắc để nâng ngưỡng nghe, nói lên dần dần. Các quy tắc còn là bộ khung để áp dụng vào khâu kiểm chứng, kiểm soát lỗi. Để có thể nhân bản ra hàng loạt câu, như trong 2 tác vụ production orale (sản xuất câu qua lời nói), production écrite (sản xuất câu qua chữ viết), sau khi đã hiểu quy luật, rút kinh nghiệm về cách sử dụng, ngữ cảnh, chúng ta cần xúc tiến nhanh qua việc nắm bắt một loạt dấu hiệu cơ bản:
DANH TỪ: thường đi kèm với mạo từ xác định (le, la, les) hoặc không xác định (un, une, des) khi đưa vào câu. => Điều này có nghĩa là: đừng để các quý nhân vélo (xe đạp), maison (ngôi nhà) trơ trơ trong câu mà không có người tháp tùng le vélo, la maison.
ĐỘNG TỪ NGUYÊN MẪU: thường kết thúc bằng -er, -ir, hoặc -re ở nguyên mẫu. Chúng ta có những quy tắc ngữ pháp chi tiết cho việc sử dụng Verbe infinitif – động từ nguyên mẫu trong câu.
TÍNH TỪ được nhận diện sau DANH TỪ, hoặc được nhận diện thông qua hệ thống hậu tố (trường hợp này, sẽ rất có ích nếu các bạn biết nhiều tính từ trong Tiếng Anh để áp dụng sang). Tính từ trong Tiếng Pháp có thay đổi hình thức chứ không cố định (giống đực, giống cái, số ít, số nhiều) để phù hợp với danh từ mà nó bổ nghĩa. Điều này có nghĩa là: chúng ta có thể tạo ra 1 danh sách các dấu hiệu để rà soát tính từ trong câu cũng như kiểm soát nó.
Ví dụ: intelligent là tính từ còn intelligence là danh từ, intelligent (thông minh – adj, mas), intelligente (thông minh – adj, fem).
Học như thế nào để viết câu Tiếng Pháp đúng?
Hãy xem việc viết câu là 1 quá trình gồm khâu lên: kế hoạch, chuẩn bị, sơ chế, tiến hành và kiểm tra, đóng gói thay vì xem nó là 1 thao tác đánh máy hay thao tác cầm bút viết lên giấy những gì phát ra trong não, theo thứ tự từ trái sang phải của dòng kẻ.
Muốn chia động từ nào, cần xác định trước:
-động từ này thuộc nhóm đặc biệt hay thông thường?
-thời điểm của động từ được đưa vào câu là gì? Quá khứ, hiện tại hay tương lai?
-hình thức và tình thái của động từ: đó chính xác là những gì ta nghĩ, tính chất khách quan, chủ quan, mức độ ép buộc hay đòi hỏi phải cân nhắc tới thái độ và cảm giác của người nghe để tiết chế lại cách hiểu câu…
-người, sự vật, sự việc nào là chủ thể thực hiện hành động này (verbe) hoặc thể hiện trạng thái này (verbe)?
Từ đó, xác định được cách chia động từ.
Trong tiếng Pháp, tính từ – adjectif không thuộc nhóm bất biến. Chúng ta cùng phân tích 2 ví dụ sau để hiểu rõ hơn:
-les bon plats => người Pháp sẽ hiểu là “có nhiều món ăn, nhưng chỉ có 1 món ngon”
-les bons plats => người Pháp sẽ hiểu là “có nhiều món ăn, các món ăn đó đều ngon”
Vì vậy, chúng ta phải hợp giống số cho tính từ theo danh từ mà nó bổ nghĩa.
Phó từ (còn gọi là trạng từ) – adverbe tuy bất biến, nhưng lại có vị trí linh hoạt, có lúc đứng trước, có lúc đứng sau động từ. Vậy, lại phát sinh thêm nguyên tắc về vị trí của adverbe trong câu.
Nếu đã học quy tắc ngữ pháp, khi áp dụng ngay vào câu, chúng ta vẫn vẫn không thể tránh khỏi có sai sót. Cũng như bao nhiêu việc trên đời, việc kiểm tra lại chất lượng công việc sau khi làm xong là việc không thể lơ là.
Viết xong 1 câu tiếng Pháp rồi đọc lại vài lần để soát lỗi,
giống như làm xong 1 bài toán và cần phải rà soát những chỗ dễ bị sai như:
cộng (+) thành trừ (-), suy ra (=>) thành tương đương (<=>), đơn vị cm thành m vậy.
Tóm lại, bê ngay từ mà ta tìm thấy ở trên từ điển dịch Anh / Pháp, Việt / Pháp hoặc google dịch, hay trong bảng từ vựng đã học mà đưa vào câu ngày thì chưa thể chính xác được. Khi kinh nghiệm xử lý câu tiếng Pháp của chúng ta còn quá ít (thời gian học đâu đó chưa đầy nửa năm hay chỉ mới được vài ngăm ngắn ngủi lại còn bị gián đoạn liên tục), cần nhớ một điều rằng: Tiếng Pháp là một hệ thống chữ viết bị ràng buộc hàng loạt quy tắc, nó không đơn giản, nó đòi hỏi tinh thần cần tiến và cả sự bình tĩnh để cố gắng từ từ, nó không thể được kiểm soát tốt chỉ sau một vài thao tác qua loa.
Ngữ cảnh: khi việc nói, viết gắn chặt với tập quán
Ngữ cảnh hay cụ thể hơn là hoàn cảnh sử dụng câu văn, tình huống chúng ta đưa câu văn vào. Trong rất nhiều trường hợp, chúng ta không hề nghĩ tới việc mình đang nói tiếng Pháp bằng bối cảnh Việt Nam hoặc hiểu câu tiếng Pháp bằng tập quán, thói quen của người Việt. Ở đây, yếu tố văn hóa, trải nghiệm (thực tế hoặc qua nghe ngóng, quan sát, tìm hiểu) có ảnh hưởng tới cách mà chúng ta diễn giải câu văn của mình và cách người bản xứ (nếu đi thi, người tiếp nhận câu chính là giám khảo) hiểu câu chúng ta nói.
Đơn cử, văn hóa sử dụng từ của người Pháp có rất nhiều sự khác biệt, so với người dùng Tiếng Anh hoặc người Việt Nam chúng ta. Sự khác biệt này, trước hết, có thể được lý giải từ sự khác biệt về điều kiện thiên nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng… Hãy thử nghiền ngẫm những thực tế được kể ra sau đây:
- Ở Tây, có tuyết, nhưng không có bão theo mùa như ở Việt Nam
- Người Paris mô tả trời xám xịt vào mùa đông. Còn người miền Tây (Đồng bằng sông Cửu Long) lại không có khái niệm mùa đông xám xịt.
- Người dân Paris không có khái niệm về mùa mưa và mùa khô. Họ cần được giải thích lại.
- Người Tây coi bánh mì là lương thực chính
- Người Việt Nam không phải coi cơm, gạo là lương thực chính và phân biệt lúa với gạo.
- Người Việt nói « nấu cơm = chuẩn bị bữa trưa, bữa tối gồm nấu gạo thành cơm và cả chế biến đồ ăn »
- Người Pháp không có khái niệm mang hàm nghĩa tương đương, dù ta có thể nói « cuisiner du riz »
- Người Pháp canh tác lúa mì như cây lương thực chính, dùng để làm bánh. Trong văn hoá của họ:
- « người cùng chia cơm sẻ áo <=> người ăn chung 1 ổ bánh mì (copain với co = cùng nhau, pain = bánh mì) »
- Người Việt còn có thành ngữ « bạn nối khố » để chỉ mối quan hệ khắng khít từ thuở ấu thơ (mặc khố), còn nghèo cho tới tận lúc sung túc, thành đạt. Trong thời kỳ Văn hóa Đông Sơn (thời Hùng Vương), nam giới người Việt cổ thường có phong tục “mình trần, đóng khố“, đi kèm với các tập tục như xăm mình hay búi tóc.
- Văn hóa Pháp không đặc trưng bằng tính cộng đồng, họ cũng có tập quán « nhường cơm <=> chia chung bánh mì – copain » nhưng không có tập quán « sẻ áo <=> co-vêtement ».
Người Pháp quan niệm: « ai sinh ra cũng đều là một bản thể độc lập ». Con cái không ăn chung tô, chén, đĩa với bố mẹ, ngủ phòng riêng từ nhỏ. Sau 18 tuổi, con cái hoàn toàn độc lập về quyền và trách nhiệm với bố mẹ. Từ đó suy ra, không tồn tại một thành ngữ tương đương, chỉ việc chia sẻ chung một món trang phục như một cử chỉ của tình bạn.
- Nhưng cũng từ đó, người Pháp lại có một khái niệm động từ khá kỳ quặc với phần còn lại của thế giới, đó là: động từ phản thân = verbe pronominal, chỉ việc tự làm gì đó cho chính mình.
Thành ngữ trong kho tàng văn hóa dân gian của mỗi quốc gia được hình thành theo kinh nghiệm lao động, quan sát thiên nhiên, cảm nhận và ghi nhớ trong giao tiếp, định đoạt, tương tác giữa những người cùng hoặc khác văn hóa địa phương (vùng, miền). Lấy một ví dụ, ở Tây có sói sống trên núi, còn Việt Nam có cọp beo trên rừng. Nếu việc dùng từ đã phải cân nhắc nhiều như trên, thì chúng ta lại càng không nên dịch máy móc, dịch ẩu các thành ngữ.
« Kiến tha lâu cũng đầy tổ = Petit à petit, l’oiseau fait son nid » => Đều nói về tính kiên trì
Trong tiếng Việt « Một cánh én không làm nên mùa xuân » nói về tình đoàn kết
Câu tương tự trong tiếng Pháp « L’hirondelle (chim én) ne fait pas le printemps (mùa xuân) » lại nói về tính cẩn trọng, đừng dựa trên 1 dấu hiệu mà đánh giá toàn bộ vấn đề.
Tổng kết cho bài học tiếng Pháp này
Để câu viết xong mà không bị buồn cười thì khi học từ, các bạn hãy học theo cụm hoặc xem xét và đọc đi đọc lại câu ví dụ. Cái chúng ta luyện khi đọc đi đọc lại là kỹ năng nhận diện quy tắc, dấu hiệu và tạo bộ lọc ngôn ngữ cho não, chứ không phải chúng ta đang nói đi nói lại một ý cho não ghi nhớ như một con vẹt.
Ví dụ
- Je travaille (Tôi làm việc) thay vì học theo kiểu “tôi = je, làm việc = travailler”
Phân biệt: travaille chứ không phải travailler, travailler (V.inf) là động từ nhóm 1, ngôi Je thì có đuôi động từ là -e.
- Elle est laborieuse (Cô ấy chăm chỉ) thay vì học theo kiểu “chăm chỉ = laborieuse”
Phân biệt: elle thay cho danh từ giống cái (nom féminin) vì vậy phải viết laborieuse chứ không phải laborieux, nhưng elle và il đều có chung dạng động từ được chia ở hiện tại là est, chứ không phải este.
- Prendre une décision (đưa ra quyết định) thay vì chỉ học « prendre = bắt, lấy, une = một, décision = quyết định »
Phân biệt: décision chứ không phải decision (không dấu ở chữ e), une décision chứ không phải un décision và các đuôi -sion luôn là danh từ giống cái (nom féminin).
- Faire des courses (đi mua sắm) thay vì học « faire = làm, des = nhiều, courses = lượt chạy »
Phân biệt: course là việc chạy, không phải là khoá học như Tiếng Anh, des courses chứ không phải une course, course chứ không phải courte, cours (fr) <=> course (eng).
